cú sốc thời gian và kinh tế việt nam
Kinh tế Việt Nam trước "cú sốc" Covid-19. VietTimes - Sự bùng phát của biến chủng Delta từ cuối tháng 4 tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam đã đảo ngược hoàn toàn bức tranh kinh tế lạc quan của Việt Nam nửa đầu 2021. Lay lắt sống ở "vùng xanh" tại TP.HCM. Hàng loạt các
Bà cho biết thực tế có rất nhiều người không tin vào điều này, và đoán rằng bà chỉ ở ngưỡng trên dưới 50. Jing năm nay đã 70 tuổi. Trước rất nhiều thắc mắc về việc bà đã chăm sóc cơ thể như thể để giữ được vẻ ngoài đầy ấn tượng như vậy, Jing đã đăng
Kinh tế Việt Nam trước "cú sốc" Covid-19. Trường Minh. Hàng loạt các tổ chức quốc tế đã điều chỉnh hạ dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm nay về mức dưới 5%. Mảng tối nhất trong bức tranh kinh tế thời gian qua là khu vực doanh nghiệp. Qua bốn đợt sóng
Đây là lần thứ hai trong vòng 2 tháng Fed đã nâng lãi suất với mức cao, đưa lãi suất hiện tại của nền kinh tế lên mức 2,25 - 2,5% (mức cao nhất kể từ tháng 12/2018). Ngoài ra, Fed có thể tăng thêm một đợt lãi suất 0,75% vào cuối năm 2022. Dự báo, lãi suất tham chiếu của
Nền kinh tế Mỹ, nếu rơi vào suy thoái "sẽ là một cú sốc lớn đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam", Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia kinh tế đang sống tại Việt Nam, nói với BBC News Tiếng Việt.
mimpi ketemu orang tua yang sudah meninggal togel. Lạm phát cao, lãi suất tăng và tăng trưởng chậm chạp vẫn là thách thức lớn với kinh tế thế giới. Nguồn Visual CapitalistKhó khăn chưa biến mấtNgày 31/5 giờ địa phương, Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật đình chỉ giới hạn vay trong 2 năm. Dự luật được thông qua chỉ vài ngày trước khi có khả năng Mỹ vỡ nợ công lần đầu tiên. Như vậy, Mỹ và thế giới có thể tránh được một cuộc khủng hoảng trước mắt. Song hàng loạt vấn đề như lạm phát cao, lãi suất tăng và tăng trưởng chậm chạp vẫn chưa biến Carsten Brzeski, trưởng bộ phận nghiên cứu vĩ mô toàn cầu tại ngân hàng Hà Lan ING nhận định "Ngay cả khi không tính đến kịch bản xấu nhất, chúng tôi vẫn đang xem xét kịch bản suy thoái toàn cầu".Đã có bằng chứng cho thấy, tăng trưởng kinh tế đang chững lại ở Mỹ và Trung Quốc - hai nền kinh tế lớn nhất thế kinh tế Mỹ tăng trưởng thấp hơn nhiều so với kỳ vọng trong quý I/ khi đó, dữ liệu mới nhất cho thấy, hoạt động của nhà máy ở Trung Quốc trong tháng 5/2023 đã giảm xuống mức yếu nhất kể từ khi nước này kết thúc chính sách "Zero Covid" cách đây 5 vậy, sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc đang mất đà, bị cản trở bởi nhu cầu trong nước yếu, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và sự sụt giảm sâu trong lĩnh vực bất động này tác động tới Đức vì Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng nhất của nước này. Đức rơi vào suy thoái khi tăng trưởng kinh tế âm hai quý liên tiếp quý IV/2022 và quý I/2023 do cú sốc giá năng lượng năm ngoái đã ảnh hưởng đến chi tiêu của người tiêu là một nước sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng lớn nhất châu Âu. Vì vậy, sự suy giảm kéo dài của nền kinh tế lớn nhất châu Âu sẽ gây rắc rối cho phần còn lại của khu vực, vốn chỉ tránh được suy thoái trong gang tấc kể từ đầu cạnh đó, động lực ở Pháp, nơi có sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ kể từ sau đại dịch Covid-19, cũng đang chậm lại. Dữ liệu chính thức cho thấy, trong tháng 4/2023, chi tiêu của người tiêu dùng tại đất nước này đã giảm tháng thứ ba liên phát quá caoThời gian qua, lạm phát đã giảm bớt ở Pháp - giống như sự sụt giảm ở Đức, Tây Ban Nha và liệu công bố ngày 1/6 cho hay, lạm phát Khu vực đồng tiền chung châu Âu Eurozone đã giảm nhiều hơn dự kiến trong tháng 5/2023 do tốc độ tăng giá cơ bản chậm lại. Lạm phát ở 20 quốc gia dùng chung đồng Euro đã giảm xuống 6,1% trong tháng 5/2023, so với mức 7% trong tháng 4/2023 và thấp hơn so với dự báo 6,3% mà các nhà kinh tế tham gia khảo sát của Reuters đưa phát cũng đã được kiểm soát ở Anh và Mỹ - lần lượt là 8,7% và 4,9% - nhưng nó vẫn ở mức cao khó chịu đối với các ngân hàng trung ương, vốn nhắm mục tiêu giữ lạm phát ở mức 2%.Nhiều nhà đầu tư kỳ vọng, Ngân hàng trung ương các nước sẽ tăng lãi suất hơn nữa trong những tuần tới để chế ngự giá cả tăng. Tuy nhiên, cả hai vấn đề này đều đóng vai trò là lực cản đối với nền kinh phát làm tăng chi phí hàng hóa và dịch vụ hàng ngày, giảm tiêu dùng của người dân. Đồng thời, việc tăng lãi suất khiến các khoản vay và thế chấp trở nên đắt đỏ hơn, gây áp lực lên chi tiêu của các doanh nghiệp và hộ gia phát vẫn chưa hạ nhiệt ở nhiều nước. Nguồn Getty ImagesẢnh hưởng của chi phí đi vay cao hơn vẫn chưa được nhiều người cảm nhận đầy hàng tư nhân Deutsche Đức cho biết, làn sóng vỡ nợ giữa các công ty Mỹ và châu Âu “sắp xảy ra” do chính sách tiền tệ thắt chặt nhất trong 15 năm, kết hợp với mức nợ cao và khả năng sinh lời thấp. Các nhà phân tích của Deutsche cho biết, làn sóng này có thể kéo dài đến cuối năm tích của Capital Economics cũng chứng minh, đến thời điểm hiện tại, chưa đến một nửa tác động của việc thắt chặt chính sách tiền tệ ở các thị trường phát triển đã được cảm nhận trong nền kinh tế kinh tế trưởng Neil Shearing của Capital Economics nhận định “Khi các điều kiện tài chính thắt chặt hơn, chúng tôi cho rằng, hầu hết các nền kinh tế tiên tiến lớn sẽ rơi vào suy thoái và gặp phải áp lực về tiền lương. Các cuộc suy thoái mà chúng tôi dự báo là tương đối nhẹ và có lẽ nên được coi là 'hạ cánh mềm' do lạm phát tăng cao trong năm qua”.Hai mối đe dọa lâu dàiBất kỳ cuộc suy thoái nào, dù nhẹ, sẽ trở nên tồi tệ hơn đối với nền kinh tế thế giới. Suy thoái có thể xuất hiện ở nhiều nước vì lạm phát và có thể phát sinh từ hai mối đe dọa lâu dài là chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine và khủng hoảng khí hậu. Hai vấn đề này sẽ gây rủi ro cho chuỗi cung ứng toàn cầu và giá lương Nga và Ukraine đều chưa phát tín hiệu kết thúc xung đột kéo dài hơn một năm. Năm ngoái, chiến dịch quân sự đặc biệt này đã đẩy giá lương thực trên toàn thế giới lên mức cao nhất mọi thời đại. Mặc dù giá đã giảm kể từ, nhưng vẫn tăng cao ở nhiều quốc gia và gây ra nạn đói ở các quốc gia cạnh đó, khủng hoảng khí hậu đe dọa nhiều nước châu Âu. Đơn cử như, lũ lụt tàn phá miền Bắc Italy vào tháng trước đã nhấn chìm hàng ngàn trang trại ở một khu vực của đất nước. Thảm họa “trăm năm có một” xảy ra sau nhiều năm hạn hán nghiêm trọng trong khu vực, khiến đất bị nén chặt, làm giảm khả năng hấp thụ lượng đợt hạn hán nghiêm trọng khác ở Nam Âu cũng có thể khiến tình hình trở nên tồi tệ hơn. Công ty dữ liệu nông nghiệp Gro Intelligence cho hay “Đất khô cằn và hạn hán nghiêm trọng của Tây Ban Nha đang ảnh hưởng đến nhiều loại cây trồng và đe dọa đẩy giá lương thực lên cao ở nhiều nước Liên minh châu Âu EU” .theo CNNLinh Chi
Giới thiệu sách Cú Sốc Thời Gian Và Kinh Tế Việt NamCuốn sách này ra đời nhân dịp Việt Nam kỉ niệm 40 năm ngày chấm dứt chiến tranh và gần 30 năm từ khi có Đổi mới. Đánh giá thành quả phát triển trong 40 năm qua, phân tích những thách thức hiện nay và đề khởi đổi mới tư duy và chiến lược cho giai đoạn mới là ba phần chính của cuốn sách. Ngoài ra có chín phụ trang về các vấn đề văn hóa, giáo dục, lịch sử, những khía cạnh có liên quan đến vấn đề phát triển bền vững của nền kinh tế. Nhiều nội dung trong cuốn sách là những bài viết đã đăng trên các báo ở trong và ngoài nước trong vài năm qua, trong đó nhiều nhất là những bài trên Thời báo kinh tế Saigon. Phần lớn nội dung của Lời nói đầu này cũng đã đăng trên số báo Tết Bính Thân phát hành giữa tháng 1/2016 của tạp chí này. Ngoài ra, Vietnamnet, Tuổi Trẻ, Doanh nhân Saigon cuối tuần, Diễn Đàn, Thời đại mới, Đà Nẵng, cũng là xuất xứ của nhiều chương và phụ trang trong sách này. Tuy dùng nhiều bài đã đăng nhưng lần này tác giả đã bổ sung, làm mới tư liệu và sửa chữa những chỗ chưa chính xác. Tác giả cảm ơn ban biên tập các báo nói trên. Việc soạn thảo, chỉnh lí nội dung cuốn sách vào giai đoạn cuối thì tác giả có dịp tham gia dự án Báo cáo Việt Nam 2035 do Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam thực hiện và đóng góp bài viết “Việt Nam cần một nền kinh tế thị trường định hướng phát triển Đánh giá 30 năm đổi mới và nhìn về tương lai”. Tác giả cảm ơn chị Phạm Chi Lan, một trong những chuyên gia phụ trách dự án nói trên, đã có nhã ý yêu cầu tham gia nên tác giả có dịp tổng kết các suy nghĩ về chủ đề chính trong sách này. Ngoài ra, trong mấy năm qua, qua các hội thảo hoặc qua trao đổi riêng, tác giả nhận được rất nhiều ý kiến, nhiều tư liệu và thông tin bổ ích hoặc những khuyến khích quý giá trong quá trình hình thành ý tưởng và phân tích cho nội dung cuốn sách. Không thể kể hết, nhưng có dịp trao đổi nhiều nhất là những anh chị Lê Đăng Doanh, Trần Hữu Dũng, Phan Chánh Dưỡng, Chu Hảo, Phạm Chi Lan, Trần Đức Nguyên, Huỳnh Bửu Sơn, Võ Trí Thành, Trần Đình Thiên, Trần Trọng Thức, Hà Dương Tường, và Vũ Quang tin tác giả GS. Trần Văn ThọGS. Trần Văn ThọSinh tại Quảng Nam. Ông là giáo sư danh dự, Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản. Trước đó ông từng là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc; Từng tham gia tổ tư vấn cải cách kinh tế và hành chính của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và cộng tác với ban nghiên cứu chính sách của Thủ tướng Phan Văn Khải. Giáo sư Trần Văn Thọ lấy bằng tiến sĩ kinh tế Đại học Hitotsubashi, Tokyo. Ông là một trong ba người nước ngoài đầu tiên được mời làm việc trong Hội đồng tư vấn kinh tế nhiều đời của Thủ tướng Nhật và làm cố vấn cho nhiều cơ quan của chính phủ Nhật Bản. Giáo sư Trần Văn Thọ là tác giả của một số tác phẩm xuất bản bằng tiếng Nhật và tiếng Việt về kinh tế châu Á, Nhật Bản và Việt Nam. Tác giả từng nhận giải Giải Châu Á Thái Bình Dương Nhật và hai cuốn được Giải Sách Hay Việt Nam.Sách Cú Sốc Thời Gian Và Kinh Tế Việt Nam của tác giả GS. Trần Văn Thọ, có bán tại Nhà sách online NetaBooks với ưu đãi Bao sách miễn phí và Gian hàng NetaBooks tại Tiki với ưu đãi Bao sách miễn phí và tặng Bookmark Xem thêm ĐÁNH GIÁ CỦA ĐỘC GIẢ Hãy đánh giá Cú Sốc Thời Gian Và Kinh Tế Việt Nam để giúp những độc giả khác lựa chọn được cuốn sách phù hợp nhất! Cú Sốc Thời Gian Và Kinh Tế Việt Nam Giá bán tại NetaBooks ₫ ₫ Tiết kiệm ₫-20%
Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2022 — Quá trình phục hồi kinh tế của Việt Nam tăng tốc trong sáu tháng vừa qua, nhờ khu vực chế tạo chế biến đứng vững và các ngành dịch vụ phục hồi mạnh mẽ. Tăng trưởng GDP được dự báo tăng mạnh từ 2,6% trong năm 2021 lên 7,5% trong năm 2022, còn lạm phát được dự báo tăng trung bình 3,8% năm nay, theo báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới công bố ngày hôm tế Việt Nam tăng trưởng 5,2% trong quý 4/2021, 5,1% trong Q1/2022, và 7,7% trong Q2/2022, khi người tiêu dùng thỏa mãn những nhu cầu dồn nén trước đó và số lượt du khách quốc tế gia tăng, theo báo cáo "Điểm lại Giáo dục để Tăng trưởng", cập nhật triển vọng kinh tế được công bố sáu tháng một lần của Ngân hàng Thế giới cho VIệt Nam. Tuy nhiên, triển vọng tích cực trên vẫn phụ thuộc vào những rủi ro đang gia tăng, đe dọa đến viễn cảnh phục hồi. Rủi ro bao gồm tăng trưởng chậm lại hoặc lạm phát đình đốn diễn ra ở những thị trường xuất khẩu chủ lực, cú sốc giá cả hàng hóa thế giới tiếp tục diễn ra, các chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục bị gián đoạn, hoặc các biến chủng COVID-19 mới tiếp tục xuất hiện. Bên cạnh đó còn có những thách thức trong nước, bao gồm thiếu hụt lao động, rủi ro lạm phát gia tăng, và rủi ro cao hơn trong khu vực tài chính. Trong bối cảnh quá trình phục hồi trong nước mới chỉ bắt đầu, triển vọng về nhu cầu trên toàn cầu đang yếu đi, rủi ro lạm phát gia tăng, báo cáo khuyến nghị các cấp có thẩm quyền cần chủ động ứng phó. Trước mắt, liên quan đến chính sách tài khóa, trọng tâm nên nhằm vào tập trung triển khai gói chính sách hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế, đồng thời mở rộng mạng lưới an sinh xã hội có mục tiêu, nhằm giúp người nghèo và những người dễ tổn thương chống đỡ tác động của cú sốc giá nhiên liệu cũng như lạm phát gia tăng. Trong khu vực tài chính, khuyến nghị đề ra là theo dõi chặt chẽ và tăng cường công tác báo cáo và dự phòng nợ xấu, đồng thời ban hành cơ chế xử lý tình trạng mất khả năng trả rủi ro lạm phát gia tăng trở thành hiện thực - khi lạm phát cơ bản tăng tốc và chỉ số giá tiêu dùng vượt quá mục tiêu 4% do Chính phủ đặt ra - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên sẵn sàng chuyển sang thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế áp lực lạm phát bằng cách tăng lãi suất và thắt chặt cung tiền. “Để duy trì tăng trưởng kinh tế với tốc độ mong muốn, Việt Nam cần tăng năng suất ở mức 2-3% mỗi năm." theo lời của bà Carolyn Turk, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. “Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tăng năng suất lao động chỉ có thể đạt được bằng cách đầu tư cho hệ thống giáo dục, là một phần quan trọng của gói các đầu tư và cải cách cần thiết. Lực lượng lao động có năng lực cạnh tranh sẽ đem lại hiệu suất là yếu tố Việt Nam rất cần trong dài hạn.”Báo cáo cho rằng đổi mới hệ thống giáo dục đại học là chìa khóa để nâng cao năng suất của Việt Nam và giúp hoàn thành mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2035 và quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Để đạt tỷ lệ nhập học đại học bình quân tương đương ở các nền kinh tế thu nhập trung bình cao, Việt Nam cần tuyển sinh 3,8 triệu sinh viên vào các cơ sở giáo dục đại học, gần gấp đôi so với chỉ tiêu tuyển sinh năm mới hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam có thể hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển, báo cáo cho biết. Chi phí tài chính cho việc học đại học ngày càng lớn và nhận định về lợi suất kinh tế giảm dần nếu theo học đại học là những lý do khiến cho nhu cầu trở nên yếu đi. Ngoài ra hệ thống còn có những bất cập khác như không cung cấp được những kỹ năng mà chủ sử dụng lao động cần có, đầu tư từ ngân sách còn thiếu, thể chế quản trị giáo dục đại học còn yếu và manh cáo đưa ra những khuyến nghị chi tiết nhằm cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục đại học, nâng cao chất lượng và sự phù hợp trong giảng dạy, nâng cao hiệu suất sử dụng nguồn lực, trong đó có khuyến nghị về mở rộng áp dụng công nghệ số, nâng cao vai trò của khu vực tư nhân, và hài hòa hệ thống văn bản pháp quy.
Cú sốc kinh tế là sự “mất mát” có nguyên nhân chủ quan, nhưng phủ nhận và hơn thế là ngộ nhận về năng lực làm nảy sinh sự nóng vội tăng trưởng. Trước hết, cú sốc kinh tế ở Việt Nam vừa xảy ra là khá nghiêm trọng. Tổng cục Thống kê vừa công bố số liệu tổng sản phẩm trong nước GDP chín tháng đầu năm 2021 ước tăng 1,42%, trong đó GDP quý ba ước giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, là mức giảm sâu nhất từ những năm đầu Đổi mới đến nay. Sự suy giảm sâu nhanh chóng khiến nhiều người “bất ngờ”, nghĩa là trái với những hình dung, suy luận, dự đoán chủ quan của nhiều người, tạo ra cú sốc mạnh về kinh tế. Các nhà hoạch định chính sách đã đặt mục tiêu tăng trưởng GDP cho năm 2021 là 6,5-7%. Ngân hàng Thế giới WB vào đầu tháng 9 đánh giá tăng trưởng kinh tế có xu hướng giảm do tác động của dịch, nhưng năng lực vẫn vững, nên vẫn dự báo tỷ lệ GDP Việt Nam năm 2021 là 4,8%, tuy nhiên vào tuần đầu tháng 10 đã hạ dự báo tăng trưởng GDP xuống 2-2,5%. Ngoài chỉ tiêu GDP, sự sụt giảm diễn ra từ cả hai phía cung và cầu, tổng mức bán lẻ hàng hoá và tiêu dùng sụt giảm mạnh đồng thời với việc giảm sâu chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp, trong đó ngành chế biến vốn “dẫn dắt” tăng trưởng giảm mạnh nhất. Các chuyên gia trong nước đưa ra nhận định rằng các trụ cột tăng trưởng đang “lung lay”. Xuất khẩu đã giảm nhanh do tác động của giãn cách xã hội kéo dài tại trung tâm kinh tế phía Nam, cán cân thương mại thâm hụt. Đầu tư công bị “ách tắc” không thể giải ngân vì nhiều lý do hơn là đổ tại cho dịch… Cú sốc kinh tế đã khiến sức chống chịu của nền kinh tế đã tới hạn. Gần bốn tháng phong toả nghiêm ngặt thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đã gây ra sự “tổn thương tới ngưỡng chịu đựng của nền kinh tế” – như thừa nhận của Bí thư Thành uỷ Nguyễn Văn Nên trong cuộc họp với các chuyên gia kinh tế và y tế ngày 17/9. Trước hết, nhiều doanh nghiệp đã kiệt quệ và đang trong tình trạng “ngắc ngoải”. Theo kết quả một cuộc khảo sát mới đây, gần 70% doanh nghiệp tham gia khảo sát đã phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh, tập trung nhiều nhất tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và phần lớn trong số đó không tiên liệu được sẽ phải đóng cửa trong bao lâu. Còn theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ đầu năm đến cuối tháng 9/2021, có doanh nghiệp thành lập mới nhưng có tới doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 24,2% so cùng kỳ năm trước, và trong đó hơn 50% là tạm ngừng kinh doanh, còn lại đang làm thủ tục giải thể hoặc đã hoàn thành thủ tục phá sản. Đối với khu vực doanh nghiệp FDI, một trong những động lực tăng trưởng chính của Việt Nam, sự đứt gãy chuỗi cung ứng và đình trệ sản xuất kéo dài này cũng đang gây ra quan ngại lớn. Theo báo cáo Chỉ số môi trường kinh doanh vừa được EuroCham Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam thực hiện, niềm tin của các lãnh đạo doanh nghiệp về triển vọng kinh doanh tại Việt Nam đã rớt xuống mức thấp nhất kể từ năm 2010, 18% trong tổng số 193 công ty được khảo sát cho biết đã chuyển dịch một phần đơn hàng hoặc nhu cầu sản xuất sang các nước khác, trong khi 16% doanh nghiệp cũng đang cân nhắc về điều này. Hình minh hoạ công nhân làm việc trong nhà máy sau khi lệnh phong toả được dỡ bỏ ở Hà Nội hôm 1/10/2021. Reuters Ngoài ra, thị trường lao động đang bị rối loạn, tỷ lệ thất nghiệp cao, đời sống người lao động, đặc biệt số lao động buộc phải về quê, rất khó khăn, tỷ lệ nghèo tạm thời đã tăng lên từ 10% ở điều kiện bình thường đã lên hơn 33%, và có thể còn tiếp tục tăng theo nhận định của các chuyên gia từ số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, gần 19 triệu người giảm thu nhập, rối loạn dịch chuyển lao động làm đảo lộn sinh hoạt dân cư… Sau nữa, đến nay phí tổn ngân sách chống dịch đã gần 30,5 nghìn tỷ, trong đó tỷ lệ khá cao dành cho lực lượng vũ trang tham gia, và nếu kể cả tiền hỗ trợ người dân và doanh nghiệp từ các nguồn khác nhau tổng chi phí ước tính là 6-7 tỷ đô la. Khi nguồn lực quốc gia bị bào mòn, xuất hiện rủi ro cho cân đối kinh tế, nguy cơ lạm phát, đe doạ bất ổn xã hội… Tất nhiên, sự phủ nhận có nguyên nhân chủ quan và, hơn thế, là ngộ nhận về năng lực điều hành kinh tế có thể làm nảy sinh sự nóng vội tăng trưởng. Cú sốc kinh tế ở Việt Nam cũng liên quan trực tiếp đến đến đại dịch COVID-19, nhưng nó “khác thường”, khác với nhiều nước nó “đến muộn” hơn về thời điểm và có nguyên nhân chống dịch chủ quan, lúng túng. Đối với toàn nhân loại đại dịch này là “chưa từng xảy ra”, “đột ngột” và “nguy hiểm”. Nó đã khởi phát từ thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào cuối năm 2019 và lan rộng ra toàn thế giới với mức độ khác nhau. Là “cái nôi” của dịch, cách phong toả khắc nghiệt hơn 11 triệu dân ở Vũ Hán và các vùng lân cận của tỉnh Hồ Bắc, dù kìm chế được sự lan rộng, nhưng đã để lại bài học chuyên chế gây tranh cãi và mang tính ý thức hệ. Sự lây lan dịch bệnh từ Trung Quốc sang Mỹ và các nước phương Tây, đặc biệt ở châu Âu diễn ra nhanh chóng do các mối liên hệ rộng mở kinh tế, việc làm, du lịch trong bối cảnh toàn cầu hoá. Tuy nhiên, cách tiếp cận chống dịch của các thể chế dân chủ dựa trên tôn trọng tự do cá nhân, cũng không hẳn là “tối ưu” đối với COVID-19 khi chưa có vắc-xin phòng ngừa. Các quốc gia đã phải chịu cú sốc về y tế và kinh tế ngay trong năm 2020, có nước chứng kiến sự sụt giảm tỷ lệ GDP lên tới hai con số, nhưng đã không mắc vào cái bẫy “Zero COVID”, đã dần trở lại trạng thái bình thường mới khi có vắc-xin và độ bao phủ cao cần thiết. Chính phủ Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều về cách tiếp cận “Trung Quốc”, đã chống dịch thành công trong ba đợt dịch đầu trong hơn một năm kể từ đầu năm 2020, nhưng đã chủ quan dẫn đến chính sách đối phó lúng túng vì thiếu nguồn lực và phương tiện y tế khi đợt dịch thứ tư bùng phát dữ dội tại vùng trung tâm kinh tế cả nước, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, từ khoảng giữa năm 2021 đến nay. Sự cộng hưởng với sốc đại dịch khiến cho cú sốc kinh tế trở nên “khác thường” hơn. Phong toả nghiêm ngặt, kéo dài khi chiến lược vắc-xin chậm, bị động và năng lực xét nghiệm vi rút yếu kém; thế mạnh của cơ chế tập trung quyền lực về huy động lực lượng trong tình huống cấp bách không phát huy được; rối loạn chức năng điều hành và phối hợp giữa chính quyền trung ương và địa phương; năng lực cán bộ lãnh đạo bộc lộ hạn chế và né tránh trách nhiệm… Tất cả yếu tố “khác thường” làm tê liệt kinh tế ở vùng trung tâm dịch, gây nên cú sốc kinh tế Việt Nam. Sức ép từ cú sốc kinh tế nghiêm trọng đã biến chiến lược “Zero COVID” của Việt Nam thành ảo tưởng và mục tiêu kép đã chỉ là khẩu hiệu. Các Chỉ thị 15, 16 và 19 của Chính phủ về phòng chống dịch trước đây được thay thế bởi Nghị quyết 128, trong đó quy định bốn cấp độ nguy hiểm với các tiêu chí cụ thể hơn để vận dụng. Tuy nhiên, chung sống với đại dịch thế nào vẫn là thách thức, sức ép từ cú sốc kinh tế, tình trạng “trên bảo dưới chưa nghe”, lao động thiếu và bất an trong bối cảnh tỷ lệ bao phủ vắc-xin thấp, không đồng đều... Cú sốc kinh tế hiện nay ở Việt Nam có ý nghĩa cho việc điều hành của chính quyền hơn là để cho tâm lý nóng vội phục hồi vì lý do tăng trưởng để thể hiện năng lực ngộ nhận. Kinh tế không thể bật dậy ngay sau cú sốc do những mất mát và tổn thương không chỉ về kinh tế mà cả xã hội. Trước mắt phải là ưu tiên nhiệm vụ ổn định cuộc sống người dân và doanh nghiệp, an cư lâu dài, sau là những chính sách phục hồi đi đôi với cải cách thể chế. Tâm lý nóng vội tăng trưởng, vì vậy, cần được cảnh báo để Chính phủ tránh hơn là bị cuốn theo, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới còn khó khăn và diễn biến dịch bệnh COVID-19 còn phức tạp. * Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do.
TT - Trong thời hiện đại, 3-4 thập kỷ là đủ để một quốc gia có thể cất cánh hoặc các trục trặc lộ diện ra để rồi mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình. Sách do NXB Tri Thức ấn hành - Ảnh Hữu Khoa Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore đã hóa rồng, trong khi một số nước trong khu vực vẫn chưa thể cất cánh cho dù đạt được một số giai đoạn tăng trưởng cao. Đâu là những nguyên nhân tạo ra sự thành bại này? Năm 2015-2016 là thời điểm hết sức đặc biệt đối với Việt Nam. Kỷ niệm 40 năm thống nhất đất nước và 30 năm đổi mới. Cho dù có được tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ xếp sau Trung Quốc trong 30 năm qua, nhưng đây không phải là mức tăng trưởng đúng tiềm năng của Việt Nam. Hơn thế, những trục trặc đã lộ diện hoặc đang tiềm ẩn làm cho việc đoán định về tương lai của Việt Nam hết sức khó khăn. Có rất nhiều điều đáng trăn trở hay cần hành động ngay trong bối cảnh Việt Nam đang có thêm một cơ hội nữa khi nền kinh tế Trung Quốc đã chựng lại và việc mở cửa sâu rộng của Việt Nam. Có lẽ đây là cơ hội cuối cùng để Việt Nam có thể vượt qua bẫy thu nhập trung bình và vươn lên. Những cơ hội bị bỏ lỡ, những trục trặc và Việt Nam cần làm gì để có thể hiện thực cơ hội đang đến được giáo sư Trần Văn Thọ phân tích thấu đáo trong Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam. Vẫn thế, những suy tư và sự nặng lòng với đất nước luôn triền miên trong ông. Những phân tích sắc lẹm trong quyển sách đáng đọc này buộc những ai quan tâm đến tương lai và sự phát triển của nước nhà phải trăn trở và suy ngẫm. Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
cú sốc thời gian và kinh tế việt nam